
Những lời tâm sự từ... thế giới bên kia
Trong đoàn người lớn nhất 83 tuổi và người nhỏ nhất 42 tuổi, họ đã khóc như chưa lần nào được khóc. Vâng! Những giọt nước mắt mừng mừng tủi tủi sau 30 năm mới nhận được thông tin của người thân bị thất lạc mộ phần. Những giọt nước mắt như ân hận xót xa vì một lẽ vô tình nào đó đã quên đi nghĩa tình với người đã chết…
Đó là những gì mà chúng tôi tận mắt chứng kiến và ghi nhận được qua buổi “nói chuyện” với “Người cõi âm” của 37 Phật tử Thiền Viện Vạn Hạnh (Đà Lạt) thông qua nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng tại thủ đô Hà Nội sau chuyến đi cứu trợ bà con miền trung bị thiên tai bão lũ đầu tháng 12 vừa qua.
LỜI TÂM SỰ CỦA NGƯỜI … "CÕI ÂM"
Đưa cho nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng xem tấm hình của người em chồng là hương linh liệt sỹ Trịnh Xuân Lành, chị Hoàng Thị Khuê ở tổ 37 khu phố 9 phường 12 TP. Đà Lạt như cố dằn cơn xúc động, nói: “Em chồng tôi đi bộ đội và bị mất tích năm 1978. Cả nhà lặn lội tìm kiếm khắp nơi nhưng không thấy, mong cô giúp cho”.
Ngắm nhìn tấm hình của liệt sỹ Lành độ 1 phút, nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng cho biết: “Hương linh liệt sỹ Trịnh Xuân lành hiện đang “ẩn” trong tấm hình này. Anh nhờ tôi nói với chị rằng ‘Anh rất cảm ơn và ghi nhận đầy đủ tấm lòng của người chị dâu luôn nghĩ tới đứa em chồng ngắn số’”.
Hương linh tâm sự rằng: ‘Ngày tôi (Hương Linh) nhận giấy báo đỗ đại học thì cũng là lúc tôi nhận được giấy báo tuyển quân. Xếp bút nghiên tôi lên đường nhập ngũ và đã cùng đồng đội tử nạn trong trận chiến đấu oanh liệt tại Campuchia năm 1978. Trước đây tôi (Hương Linh) cũng có bia mộ đàng hoàng nhưng do chôn ở dưới thấp cho nên mưa lũ đã cuốn trôi tấm bia của tôi được làm bằng gỗ, và thế là tôi không còn dấu tích nào cả cho nên ban quản trang không liên lạc được với người thân. Từ đó tôi trở thành kẻ vô danh trên bia mộ! Hiện tại người ta đã qui tập tôi vào nghĩa trang Mộc Hoá, tỉnh Long An. Tính từ tượng đài liệt sỹ ra, mộ tôi xếp thứ bảy, ngay hàng đầu tiên, đầu hàng có một lùm cây sum xuê đặc biệt nhất. Trên mộ có một cây hoa màu tím và bát nhang của tôi người ta để hơi lệch…’
Đến từ phường 12, nhà số 60/15 đường Thái Phiên, TP. Đà Lạt, anh Hoàng Văn Sáo cũng mong nhà Ngoại cảm cho biết Hương Linh người chú ruột của mình là liệt sỹ Hoàng Phất - nguyên tiểu đội trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã mất tích tại Mặt trận Ba Lòng (Lào) năm 1954.


Mặc dù trước khi chết Hương Linh không có tấm hình nào để lại cho cháu mình nhưng nhìn vào mặt của anh Sáo, nhà Ngoại Cảm Phan Bích Hằng nói: “Trên mặt anh lúc này tôi thấy có một Hương Linh còn nhỏ, tự xưng là em của anh. Hương Linh nói là đã cứu anh thoát chết 1 lần (tai nạn nước), bây giờ muốn xin anh “1 trái banh và 1 con diều”.

Anh Hoàng Văn Sáo đang nghe nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng
Xác nhận thông tin của nhà ngoại cảm vừa nói là rất chính xác, anh Hoàng Văn Sáo cho biết thêm: “Tôi có 1 người em trai bị bệnh chết lúc vừa tròn 2 tuổi và tôi cũng đã may mắn thoát chết trong một lần đi tắm sông” . Nhìn thẳng vào mặt anh Sáo một lần nữa cô Bích Hằng nói thêm: “Hương linh của chú anh đã được đưa về Việt Nam và an táng tại Nghĩa trang Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị). Mộ hiện nằm tại khu 7 số mộ là 119, trên bia có ghi chữ liệt sỹ vô danh”.
Không có người thân bị mất tích, nhưng chị Lê Thị Thuý Hằng ở 33/17A Phan Đình Phùng Phường I Đà Lạt hỏi thăm về người con của chị là Hương Linh Hàng Mỹ Oanh, 23 tuổi, bị tai nạn mất ngày 7/3/Đinh Hợi (2007) bây giờ ở đâu, có cần gì không?

Chị Lê Thị Thúy Hằng chụp hình với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng
Nhìn vào tấm hình của Mỹ Oanh, cô Bích Hằng nói ngay: “Hương linh đang khóc vì thương nhớ mẹ, những gì bố mẹ cúng cho con, con đều nhận được cả. Tuy nhiên hương linh trách mẹ mình sao hôm tẩm liệm con, mẹ lại tháo xâu chuỗi hạt đá màu đen mà con rất yêu thích!? Bây giờ con xin mẹ chôn xâu chuỗi này dưới chân mộ cho con và xin thêm cuốn Album đựng hình màu đỏ của con mà mẹ đang để trên bàn thờ”.
Cô Lê Thị D. (Vì lý do tế nhị xin dấu tên) ở Lâm Hà, Lâm Đồng xin hỏi về cha của mình là hương linh Lê Phước … . Cha có được siêu thoát không? Có cần gì không?
Nhìn vào hình của cụ một lát, nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng cho biết: “Hương linh tâm sự rằng, tôi buồn lắm. Đứa con dâu của tôi, mỗi lần nó giận chồng nó, nó cũng giận luôn tui. Nó chửi con nó, nó cũng chửi luôn tui và cụ nhờ nhà ngoại cảm hỏi chị Đ.. rằng con có tiền không? Đem cha về chùa đi. Cha buồn lắm, không thể nào siêu thoát được mặc dù con gái (chị Đ… ) thường xuyên đi chùa và luôn gởi tên để cầu cho ông siêu thoát! …”
Chị Trần Thị … (vì lý do tế nhị xin dấu tên) hỏi về hương linh cha mình tên Trần Văn … Cha có cần gì không? Có siêu thoát không? Nhìn vào hình và như có vẻ đang chăm chú lắng nghe ai nói gì đó. Một lát sau nhà ngoại cảm nói giọng thật buồn: “Cụ ông than rằng, các con mình đi chùa nhiều nhưng không biết gì cả. Làm sao mà cụ siêu thoát được khi trong nhà các con không hoà thuận, lại tranh giành nhà cửa đất đai của cha mẹ để lại…”
Cầm tấm hình của hương linh Nguyễn Văn Mạnh, sinh năm 1939, quê quán Hoài Đức - Hà Tây. Nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng nói với bà Nguyễn Thị Bài (vợ của hương linh) rằng: “Cụ ông không chết một mình. Cụ chết nước và chết trên một chiếc thuyền cùng 40 người. Xác đã trôi từ Phan Rang ra Ba Ngòi…”
Tội nghiệp nhất là hương linh của anh Nguyễn Ch … bị mất tích ở tiểu khu Phước Long năm 1974. Hương linh than với nhà ngoại cảm rằng: “Do chị tôi không tin dưới mồ là nơi chôn tập thể của cả một tiểu đội trong đó có em mình (chết tập thể nên không thể nào bóc mộ được) nên khi cúng chị không gia tâm hướng về tôi, thế là tôi hoàn toàn không hưởng được gì cả, luôn lạnh lẽo, đói rách…
Nhận được thông tin trao đổi của em mình qua nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng, chị Nguyễn Thị Lệ Q ... nước mắt cứ ràn rụa. Chị thú nhận: “Thật tình con không tin ngôi mộ tập thể này có xác em con, nên khi cúng con không nhất tâm… Trước đây con hay nằm mơ thấy cậu nó về than rằng em đói rách lắm… Con cứ tưởng mình vì quá thương em nên mộng mị. Ai dè hôm nay cô Hằng cũng thấy em con như thế. Tội nghiệp quá, con ân hận quá…
NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT CHÂN TÌNH CỦA NGƯỜI … DƯƠNG THẾ
Có lẽ vợ chồng anh Hoàng Văn Sáo là người hạnh phúc nhất trong chuyến đi này. Bởi trên đường rời Hà Nội về đến Quảng Trị, anh xin phép đoàn rồi đi xe thồ vào nghĩa trang Đường 9 (Đông Hà). Được sự giúp đỡ của Ban Quản Trang và theo sơ đồ chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng, anh đã tìm được nơi an nghỉ cuối cùng của người chú ruột sau 29 năm thất lạc mộ phần.
10 giờ sáng ngày 13/11/ Đinh Hợi (2007), anh Trịnh Xuân Hiền và vợ là chị Hoàng Thị Khuê đã vui mừng điện thoại báo tin cho tôi (người viết bài này) biết là vợ chồng anh đã tìm được mộ của người em trai là liệt sỹ Trịnh Xuân Lành tại nghĩa trang Mộc Hoá Long An đúng như sơ đồ do nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng đã vẽ: tính từ tượng đài liệt sỹ ra, mộ liệt sỹ Lành xếp thứ bảy, ngay hàng đầu tiên. Đầu hàng có một lùm cây sum xuê đặc biệt nhất, trên mộ có một cây hoa màu tím và chi tiết cực kỳ đáng kinh ngạc nhất là bát nhang của liệt sỹ bị lệch sang một bên (đúng như lời cô Hằng nói).
Trao đổi với chúng tôi, chị Lê Thị Thuý Hằng cho biết: “Quả thật cháu nó mất đột ngột quá (do tai nạn) cho nên trước khi liệm con đã tháo sợi dây đeo cổ bằng hạt đá đen của cháu để làm kỷ niệm. Vì thế khi nghe cô Bích Hằng nói “Cháu nó đòi kỷ vật đeo cổ là hạt đá màu đen” con đã đem chôn sâu chuỗi hạt này dưới chân mộ (đúng theo yêu cầu của cháu). Còn cuốn album hình màu đỏ thì kỳ giỗ sắp tới con sẽ đốt luôn cho cháu.
Chị Lê Thị Đ … thì tâm sự với chúng tôi rằng: “Ở quê người ta nói chỉ có con trai mới được thờ cha mẹ, cho nên bây giờ con ân hận quá. Còn việc chị dâu con nóng tính hay la thì cả họ ai mà không biết. Sắp tới con sẽ gởi ba con vào chùa và ở nhà con cũng lập bàn thờ hương khói cho cụ…”
Còn chị Trần Thị D… và cô Nguyễn Thị Bài thì nước mắt cứ ràn rụa xác nhận là những thông tin mà nhà Ngoại Cảm Phan Bích Hằng vừa nói là hoàn toàn chính xác.
Vì khuôn khổ của trang báo có hạn cho nên chúng tôi chỉ xin nêu vài dẫn chứng cụ thể trong số 37 Phật tử Thiền Viện Vạn Hạnh (Đà Lạt) đã được tiếp xúc với nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng và cũng vì lý do tế nhị cho nên một số trường hợp chúng tôi xin dấu tên và địa chỉ. Mong quí vị thông cảm.
THAY LỜI KẾT
Có ai đó cho rằng “Chết là hết” !?. Thực sự đời người có đơn giản như vậy không? Nếu thế thì việc tốt xấu, thiện, ác, lành, dữ do mỗi chúng ta làm ra thì sao? Riêng tôi (người viết bài này) thì rất tin vào từng nghiệp lực của mỗi chúng sinh, bởi nghiệp là hành động tạo tác do chính chúng ta làm ra và ta phải gánh chịu hậu quả của việc mình làm.

Tác giả bài viết, Thầy Thích Linh Toàn
Xin được mượn lời dạy của Đức Phật trong Kinh Tăng Chi II để kết thúc bài viết này và thầm mong rằng tất cả chúng sinh sớm “Tỏ Ngộ Lý Chơn Thường”, xa lìa bể khổ, không vấn vương hậu quả của từng nghiệp lực bởi: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy (Tăng Chi II). Giàu sang hay nghèo đói, ngu tối hay thông minh, an ninh hay bất an… điều do sự hiện diện và chi phối của nghiệp.











Chuyện về Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng
Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nghèo thuộc xã Khánh Hòa, Yên Khánh, Ninh Bình. Năm 1990, khi 17 tuổi, vừa thi đại học về, Hằng cùng một cô bạn gái đang đi trên đường bỗng có một con chó nhảy xổ ra cắn. Hằng bị cắn vào chân trái, cô bạn gái bị cắn vào tay trái. Cũng như người dân ở các vùng nông thôn, Hằng và cô bạn cảm thấy chuyện bị chó cắn rất bình thường, rồi quên ngay sau đó.
Vài ngày sau khi bị chó cắn, Hằng nhận được giấy báo đỗ đại học. Khoảng một tháng sau, cô bạn đột nhiên không nói được nữa, hàm răng cứng lại. Nghĩ là bị đau răng, Hằng đưa cô bạn đi khám. Bác sĩ nha khoa kiểm tra và khẳng định không phải do đau răng. Hai người lại đèo nhau đến Bệnh viện Quân y 5 Ninh Bình. Sau khi khám xét, bác sĩ bảo bạn gái của Hằng có triệu chứng của người bị bệnh dại. Tưởng như đất dưới chân sụt xuống, tử thần đã nắm tay mình dắt đi, Hằng nói như người mất hồn: “Đúng như vậy. Cháu và cô bạn đều bị một con chó cắn”.
Sau hôm đó, Hằng cũng hôn mê bất tỉnh. Cô bạn thân thì đã qua đời. Gia đình đưa cô đi chữa trị nhiều nơi, bằng cả Đông y lẫn Tây y, song các bác sĩ, thầy lang đều lắc đầu, bởi bệnh này từ xưa đến nay không ai chữa khỏi. Khi đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa giáo, ông xem xét kỹ biểu hiện cơ thể rồi nói một câu an ủi: “Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”. Sau đó, ông bảo người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván mà người ta vừa bốc lên hôm trước, rồi bào chế với vài vị thuốc. Để giành giật giữa sự sống và cái chết, gia đình Hằng liền cho cô uống ngay vị thuốc khủng khiếp này. Sau khi uống thuốc, ông thầy lang bảo với bố mẹ Hằng: Sau ba tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé. Nếu ba ngày sau cháu hết cơn thì cháu sống được còn nếu lên cơn trở lại thì cháu không sống được nữa. Tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ có vậy.
Đúng như lời ông thầy lang nói, 9h tối Hằng lên cơn cắn xé điên cuồng, đến 11h đêm mới thiếp đi. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, khi cùng người anh trai của cô bạn gái đã mất ra mộ thắp hương thì đột nhiên Hằng cảm thấy có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Hằng liền nói: “Anh đưa nhanh em về, em sắp lên cơn điên rồi”. Từ đấy, Hằng không còn biết gì nữa. Đến 1h sáng hôm sau, gia đình không còn hy vọng bởi Hằng đã hoàn toàn tắt thở. Bình thường, những người trẻ tuổi như Hằng ở quê được khâm liệm rất nhanh rồi đem chôn, không tổ chức lễ tang, kèn trống.
Thế nhưng, có một ông cụ dạy chữ nho ở làng rất giỏi tử vi vào nhà Hằng, sau một hồi tính toán, ông bảo: “Thứ nhất, chưa qua giờ Thìn không được khâm liệm cháu; thứ hai, cứ để nó nằm như thế, không được thắp hương”. Lúc đó, một ông bác sĩ nói: “Tốt nhất đậy mặt cháu lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại sao cụ lại nói vậy”. Ông cụ đó nói tiếp: “Các anh thì có cả một nền y học hiện đại, còn tôi chỉ là tàn hương nước thánh, nhưng tôi khẳng định nó không chết”. Nghe cụ già và bác sĩ tranh cãi, gia đình Hằng rất hoang mang, không biết xử trí thế nào. Thế nhưng, ai đi mua gỗ đóng quan tài cứ đi, ai ngồi chờ xem lời ông cụ linh ứng thế nào thì cứ chờ.
Hồi khắc khoải chờ chết, Hằng có hỏi bố (bố Hằng là quân nhân): “Vì sao những vị lãnh đạo khi chết người ta lại bắn bảy loạt đại bác”, bố Hằng trả lời: “Để linh hồn mau siêu thoát”. Nghe bố nói vậy, Hằng liền bảo: “Khi con mất bố bắn cho con bảy phát đạn để con mau siêu thoát trở về với gia đình mình”.
7h sáng hôm đó bố Hằng mới về đến nhà. Trông thấy đứa con gái tội nghiệp tắt thở nằm đó ông không kìm được nước mắt. Nhớ lời hứa với đứa con gái, ông lôi súng ngắn ra bắn. Tiếng súng nổ làm Hằng bật tỉnh dậy và phản xạ đầu tiên là lao ra phía tiếng súng gọi “Bố ơi!”. Hằng đạp phải những chiếc vỏ đạn và ngã rất mạnh xuống sân. Mọi người liền khiêng cô vào trong nhà.
Sau khoảng nửa tiếng, Hằng tỉnh lại hoàn toàn. Khi đó, một cảm giác rất kỳ lạ đến với cô. Thân thể dường như mất trọng lượng, như đang bay và nhìn mọi người như ở một thế giới khác. Theo lời Hằng, trong thời gian 30 phút bất tỉnh do trượt ngã đập đầu xuống sân, cô thấy bà nội và bà ngoại (cả hai đều đã mất) gọi cô. Hằng thấy mình đang đi qua một cây cầu bắc qua con sông lớn với mây mờ sương khói bao phủ. Phía bên kia cầu, bà ngoại cùng rất nhiều người đứng vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ này kéo lại. Cố vùng vẫy, Hằng tuột khỏi tay bà. Đúng lúc đó thì tiếng súng làm Hằng giật mình tỉnh dậy. Mọi người đều vui mừng khôn xiết, coi việc Hằng sống lại là chuyện thần kỳ.
Vài tháng sau, khi khỏe mạnh hẳn, Hằng thường đi lung tung, không có định hướng. Điều kỳ dị là nhìn mặt mọi người Hằng có thể biết được họ còn sống lâu hay sắp chết. Một số người đang khỏe mạnh song lại cứ như có ai đó nói với cô rằng họ sắp chết, thế là cô tìm họ nói cho họ biết rằng họ sắp chết. Không ít lần cô bị ăn đòn vì... độc mồm, độc miệng.
Ngày đó, trong làng có ông Vũ Văn Trác, 50 tuổi, rất khỏe mạnh và quý mến Hằng. Ngày Hằng còn bé, có cái bánh, cái kẹo ông đều dành cho. Một hôm, gặp ông Trác đi làm đồng về, Hằng bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp mất rồi. Ông đừng đi làm nữa cho khổ!”. Nghe Hằng nói thế, ông Trác cầm cái roi trâu quát: “À, tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận”. Khi ông Trác cầm roi trâu đuổi, Hằng còn vừa chạy vừa quay lại bảo: “Ông sẽ chết thật mà”. Ông Trác tức sôi máu đánh Hằng một trận, cô đau phát khóc, nhưng vừa khóc vừa khẳng định vài ngày nữa ông sẽ chết. Hôm ấy những người chứng kiến được bữa cười ra nước mắt. Nhưng rồi, vài ngày sau loa truyền thanh xã thông báo ông Trác chết thật. Thông tin ấy làm cả làng sợ hãi.
Tiếp sau ông Trác là ông Bùi Văn Trai, Chủ nhiệm HTX thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa. Ông Trai là bạn rất thân của mẹ Hằng. Hôm đó, giữa hội trường UBND xã, rất nhiều người chứng kiến, Hằng nói: “Đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao hết đi, nếu không đến lúc ấy lại không kịp”. Ông Trai bực mình nói với bố mẹ Hằng rằng: “Anh chị phải về dạy bảo con, chứ cứ để nó huyên thuyên như thế là không được”. Không ngờ, đầu tháng giêng ông Trai chết thật.
Sau chuyện đó cả làng bảo Hằng bị ma ám, nói ai chết là người ấy chết. Người ta cứ nhìn thấy Hằng là tránh xa. Mọi người trong gia đình Hằng đều đau khổ. Mẹ Hằng là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh đều rất tin tưởng khi con cái họ học lớp bà chủ nhiệm, nhưng biết chuyện của Hằng thì đều xin cho con chuyển lớp. Hằng ra sức thuyết phục mọi người rằng cô không bị thần kinh, những chuyện đó là do cô nhìn thấy, nhưng không ai tin. Cha mẹ Hằng đưa cô đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác khám thần kinh, rồi đưa đi gặp hết “cậu nọ, cô kia” cúng bái. Mặc dù khi đó Hằng có khả năng phán đoán được tình trạng sức khỏe, thậm chí cả suy nghĩ của người khác, song Hằng đau khổ đến nỗi chỉ mong quên hết khả năng ấy đi.
Theo lời kể của Hằng, một ngày, trong cơn tuyệt vọng, Hằng ao ước được "nhìn thấy" bà nội và bà ngoại, những người cô rất yêu quý. Thế rồi, kỳ lạ thay, vào ngày giỗ bà nội, Hằng “nhìn thấy” bà nội (bà chết khi Hằng 10 tuổi) về, bế theo một đứa trẻ và dắt theo một đứa nữa. Hằng nói chuyện với bà, rồi kể cho mọi người nghe. Ông nội nghe Hằng nói liền kể rằng đó là hai đứa con của ông đã mất lúc tám tháng và ba tuổi. Lúc này, mọi người mới kinh hoàng nhận ra rằng, Hằng có khả năng đặc biệt.
Ngôi làng Hằng đang sống có ngôi chùa Dầu rất cổ. Khi nhà Trần đánh tan Chiêm Thành, bà Huyền Trân Công Chúa không về Thăng Long mà vào tu ở ngôi chùa này. Sau này gia tộc họ Trần cũng về đây ở, rồi chết đi thì chôn luôn ở quanh chùa. Một lần, Hằng vào nhà ông chú ruột chơi rồi bảo rằng, trong vườn nhà chú có bóng người. Nhà chú Hằng ai cũng mắc bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu về bên phải, nên ông rất tin lời Hằng nói. Thế là hai chú cháu đào bới thử mảnh vườn. Không ngờ thấy một lớp ngói đã mục, rồi đến một lớp đất đỏ. Gạt lớp đất đỏ ra thì thấy lớp quách bằng hợp chất gồm vỏ hến, vôi, mật. Phá lớp này ra thì thấy cỗ quan tài chạm trổ rất đẹp bằng gỗ ngọc am. Bật nắp quan tài thấy xác ướp người đàn ông. Sau này, các nhà sử học xác định ngôi mộ có tuổi 700 năm.
Chính gia đình Hằng cũng để thất lạc mộ cụ bốn đời. Nhiều lần, bố Hằng nhờ đồng đội về đào bới mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ, Hằng thử đi tìm. Không ngờ, Hằng “nhìn” thấy mộ cụ nằm trên đường đi. Hằng liền rủ mấy người anh ra đường đào. Mấy anh bảo vệ xã nhìn thấy thì bảo: “Chết dở thật. Con ông bộ đội rỗi việc đi phá đường”. Hằng khẳng định dưới lòng đường có mộ thì mấy anh bảo vệ bảo: “Thế thì đem cuốc xẻng ra đào thử xem con dở hơi này nó nói có đúng không!”. Khi đào sâu gần 2m thì xuất hiện một tấm gỗ có khảm chữ Hán. Hằng liền đem rửa mảnh gỗ đi rồi mang cho ông nội đã 80 tuổi đọc. Ông nội Hằng đọc thấy hai dòng chữ ở hai mặt tấm gỗ là “Âm thủy quy nguyên” và “Vinh quy bái tổ” thì lăn ra khóc. Bao nhiêu năm nay đã nhiều đêm ông không nhắm mắt được vì đã để thất lạc mộ tổ. Lúc này, mọi người không còn nghi ngờ gì về khả năng đặc biệt của Hằng nữa.
Nhưng bố Hằng, là một cán bộ được rèn luyện trong môi trường quân ngũ, tính tình cứng rắn, chỉ tin vào khoa học nên vẫn chưa tin vào khả năng của Hằng. Ông bỏ cả việc cơ quan để ở nhà trông Hằng, đuổi hết những người tìm đến “cầu thánh, cầu thần”. Để chứng minh với bố rằng cô không bị thần kinh, không bị hoang tưởng di chứng chó dại cắn, cô xin bố cho đi thi đại học và hứa chắc chắn sẽ thi đỗ. Để bố tâm phục khẩu phục, Hằng quay ngoắt sang ôn thi khối A, ĐH Kinh tế quốc dân, cho dù năm trước cô thi khối C. Chỉ có 15 ngày ôn thi, kể từ khi xin bố, vậy mà Hằng đã thi đỗ với số điểm khá cao, 24 điểm.
Khi đó, Hằng đã là cộng tác viên của Viện Khoa học thể dục - thể thao. Một số cán bộ có tâm huyết của Bộ VH-TT đã đi theo Hằng để nghiên cứu rất tỉ mỉ về khả năng tìm mộ. Hằng đã nhờ những vị cán bộ này cho người về giúp cô khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê cô có từ đời nhà Trần. Hằng về, “nói chuyện” với những người xây chùa, tất nhiên là đã chết cách đây 700 năm, trong đó có cả nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, là bà Phan Thị Vinh. Người xưa đã kể tỉ mỉ cho Hằng biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phong từ các đời vua. Những gì Hằng thu thập đều được các cơ quan quản lý văn hóa xác nhận đúng. Với những tài liệu, hiện vật thu thập được, Phòng văn hóa đã trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ và sau đó chùa Dầu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.
Những gì Phan Thị Bích Hằng làm được cho đời thực sự trân trọng, không lý lẽ gì có thể bác bỏ. Đã có hàng ngàn gia đình tìm lại được người thân, đã có cả ngàn hài cốt liệt sĩ được trở về đất mẹ sau bao nhiêu năm nằm nơi rừng sâu núi thẳm, mà nhiều đồng đội, người thân đi tìm không thấy. Thậm chí, qua Bích Hằng, lịch sử đã phải viết thêm những trang hào hùng về trận đánh khốc liệt ở cánh rừng K'Nác, huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai. Nơi đây, dòng Đắk Lốp đã nhấn chìm 400 thi thể chiến sĩ và cả những chiến công của họ nếu không có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vượt rừng, lội suối tìm hài cốt của họ để đồng đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ, mang lại niềm an ủi cho các gia đình.
Theo CAND